Một số vấn đề về cơ chế quản lý tài chính cho nghiên cứu phát triển của các Tập đoàn viễn thông Việt Nam
Nội dung
MụcR & D
Vấn đề nghiên cứu phát triển (R&D) là một hoạt động có tác dụng trực tiếp đến tốc độ tăng trường và sự phát triển bền vững của các tập đoàn kinh tế. Các tập đoàn lớn của thế giới chi phí R&D hàng năm tới 7-15% doanh thu. Ở Việt Nam, Chính phủ khuyến khích doanh nghiệp (DN) đầu tư cho R&D, tuy nhiên do kinh phí còn hạn hẹp, cơ chế không đổi mới nên hiệu quả R&D còn thấp. Bài viết này đề cập đến một số vấn đề về cơ chế quản lý tài chính phục vụ cho chức năng R&D với mong muốn góp tiếng nói cùng các nhà quản lý trong các tập đoàn đặc biệt là các tập đoàn viễn thông mới ra đời ở Việt Nam.
1. Cơ chế quản lý tài chính của tập đoàn kinh tế
* Cơ chế quản lý tài chính:
Quản lý tài chính là sự tác động của nhà quản lý tới các hoạt động tài chính của DN. Nó được thực hiện thông qua một cơchế. Đó là cơchế quản lý tài chính DN. Cơchế quản lý tài chính DN được hiểu là một tổng thể các phương pháp, các hình thức và công cụ được vận dụng để quản lý các hoạt động tài chính của DN trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Nội dung chủ yếu của cơchế quản lý tài chính DN bao gồm: cơchế quản lý tài sản; cơchế huy động vốn; cơchế quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận; cơchế kiểm soát tài chính của DN.
* Cơ chế quản lý tài chính của tập đoàn kinh tế:
Sự tạo thành các chức năng cơ bản của tập đoàn kinh tế là do bản thuân cấu tạo tập đoàn, gồm 3 thành phần: công ty mẹ - tập đoàn, các công ty con, các công ty liên kết. Khi triển khai bình diện các công ty con và các công ty liên kết, tập đoàn thực hiện quá trình sản xuất (chức năng sản xuất kinh doanh – SXKD). Khi triển khai trên bình diện công ty mẹ, tập đoàn thực hiện hợp lực tài chính (chức năng điều hành tài chính) giữa công ty giữa công ty mẹ và các công ty con, các công ty liên kết và đồng thời công ty mẹ đảm nhận ngành nghề kinh doanh chính của tập đoàn. Do đó nội dung cơchế quản lý tài chính của tập đoàn cùng lúc phải cụ thể hoá và thể hiện được các đặc điểm kinh tế ngành, vừa không những phải bao hàm đầy đủ những nội dung của cơchế quản lý tài chính doanh nghiệp nói chung mà còn phải có những cơchế tài chính cho những chức năng mà công ty mẹ đảm nhận. Như vậy, ngoài những nội dung cơ bản trong cơchế quản lý tài chính doanh nghiệp thì cơchế quản lý tài chính của tập đoàn kinh tế sẽ có thêm một số nội dung sau đây:
* Cơchế tài chính cho chức năng đầu tư vốn của công ty mẹ, gồm có: định giá công ty con trong tập đoàn khi quyết định huy động vốn và định giá cổ phiếu của một công ty niêm yết để quyết định đầu tư.
* Cơchế tài chính cho chức năng R&D.
* Cơchế tài chính phục vụ các giải pháp khi sáp nhập, hợp nhất DN.
* Cơchế kiểm soát của công ty mẹ tập đoàn đối với các công ty con và các công ty liên kết.
2. Vai trò của cơ chế quản lý tài chính đối với chức năng R&D của tập đoàn DN
* Chức năng R&D của các tập đoàn kinh tế
Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ là một chức năng không thể thiếu của các tập đoàn kinh tế. Quy luật cạnh tranh đã khiến cho chức R&D của các tập đoàn kinh tế ngày càng tập trung hơn và trở thành vũ khí cạnh tranh, quyết định tương lai của tập đoàn. Đặc biệt, khi khoa học và công nghệ trở thành hàng hoá có sức cạnh tranh hơn cả vốn thì từ chỗ R&D là lĩnh vực bên ngoài sản xuất, là hoạt động của các nhà khoa học và các viện nghiên cứu do Nhà nước quản lý và cung cấp tài chính, thì nay khoa học và công nghệ được nội bộ hoá trong các tập đoàn kinh tế tõ đã làm xuất hiện các Viện R&D trong các Tập đoàn. Hoạt động nghiên R&D gắn kết chặt chẽ với hoạt động của tập đoàn kinh tế, khắc phục các điểm yếu trong quản lý, công nghệ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của bản thân tập đoàn, đồng thời phát hiện ra các điểm mạnh của đối thủ trên thương trường để tìm ra giải pháp nhằm cạnh tranh thắng lợi. Có thể nói, tập đoàn kinh tế tự đảm nhận chức năng R&D là một bằng chứng về tiến bộ trong phân công xã hội hiện nay và cho đến nay, nhiều nhà kinh tế nhận định rằng, tập đoàn kinh tế là lực lượng chính để thực hiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trong thế kỷ XXI.
* Cơchế tài chính cho R&D của tập đoàn kinh tế
- Đánh giá đúng vai trò của HK&CN trong SXKD: trong chiến lược phát triển của mình, các tập đoàn kinh tế lớn luôn đặt vấnđề công nghệ lên hàng đầu. Đi đầu trong công nghệ cũng có nghĩa là tiến trước đối thủ cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường, mang lại cho tập đoàn sức mạnh cạnh tranh và lợi nhuận độc quyền cao, vì vậy họ có đánh giá đúng mức các nhà khoa học, vai trò của hoạt động khoa học công nghệ trong sản xuất kinh doanh, từ đó chú trọng vào vấnđề tuyển chọn, đào tạo nguồn nhân lực để có thể đảm đương được những nhiệm vụ nghiên cứu khoa học.
- Chi phí cho công tác R&D: ngày nay, tài sản quan trọng nhất của một DN là công nghệ. Công nghệ bao gồm bằng phát minh sáng chế, bản quyền, sản phẩm hoặc dịch vụ độc quyền hay là các phương pháp xử lý sản xuất đặc biệt, nó được hình thành từ các chi phí cho đầu tư R&D. Quyết định đầu tư cho R&D là một quyết định khó khăn, đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ càng về kinh phí, nguồn nhân lực, xu hướng phát triển công nghệ trong lĩnh vực mà tập đoàn quan tâm. Nhiều khoản đầu tư cho R&D trong lĩnh vực viễn thông và công nghệ thông tin (CNTT) như đầu tư sản xuất máy tính, phần mềm hệ thống, chi phí đào tạo, công nghệ viễn thông... thường chi mất hàng trăm triệu đô la hàng năm và một dự án đầu tư nghiên cứu loại này trong nhiều năm có thể lên tới chi phí hàng tỷ đô la nhưng phần lớn những chi phí này sẽ chi cho các khoản không có hình thái vật chất như: thiết kế hệ thống, thí nghiệm, chạy thử, đào tạo nâng cao trình độ. Đánh giá hiệu quả những dự án R&D, xem xét sự vận động của luồng tiền trong những dự án này quả thật là khó khăn và chưa thể xác định được hiệu quả nếu dự án chưa đạt được kết quả ứng dụng trên thị trường thương mại. Với tính phức tạp như trên, những chi phí này không thực hiện bằng phương pháp lập kế hoạch tài chính thông thường theo những định mức và đơn giá phổ thông hiện nay mà được quyết định theo phương pháp đặt hàng: tập đoàn dành ngân sách để đặt hàng cho các viện, các trung tâm R&D thực hiện. Khó khăn lớn nhất lúc này sẽ là vấnđề thẩm quyền và trách nhiệm quyết định đầu tư. Ở những tập đoàn lớn, các dự án này đều phải được các cấp cao nhất như Tổng Giám đốc, Hội đồng quản trị quyết định với sự tham gia của các chuyên gia cao cấp; một số trường hợp còn phải xin ý kiến của Đại hội đồng cổ đông - những người chủ sở hữu đích thực của Tập đoàn và gắn liền quyền lợi và trách nhiệm của họ đến sự thành bại của dự án.
- Để hoạt động R&D hiệu quả, các tập đoàn luôn tập trung vào hai vấnđề cần nghiên cứu. Một là, khái niệm “đổi mới” để đạt được tối ưu các hoạt động từ mua nguyên vật liệu, sản xuất chế tạo, bán hàng, đến các vấnđề kỹ thuật và cải tiến sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Kết quả của quá trình này sẽ dẫn đến nhiều thay đổi: Từ mô hình tổ chức, kỹ thuật sản xuất, cách thức bán hàng, đến việc phải tái cơ cấu công ty. Hai là, khái niệm “sáng chế” những phương pháp sản xuất được hình thành từ những phát minh hoặc từ những thành quả khoa học công nghệ khác và sử dụng những nguyên lý đó để chế tạo những sản phẩm thương mại cần thiết cho thị trường.
- Một giải pháp nữa là các tập đoàn có thể học hỏi làm chủ và thực thi sáng chế công nghệ. Trước khi mua bản quyền, Tập đoàn phải trả lời câu hỏi bao giờ, ở đâu tái xuất được công nghệ đã làm chủ, tức là tìm ra lộ trình R&D khả thi, có tính thương mại. Hoặc có thể thành lập ra các liên doanh quốc tế để qua đó học hỏi và hoàn thiện chính sách R&D nói riêng cho chính mình và quản lý tập đoàn nói chung.
3. Cơ chế tài chính cho công tác R&D ở các DN viễn thông Việt Nam hiện nay
Nghiên cứu phát triển công nghệ mới, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao như viễn thông và CNTT là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của DN. Thực tế các tập đoàn viễn thông trên thế giới đều giành một phần lớn ngân sách chi cho hoạt độ R&D, thường là một tỷ lệ khá lớn trên doanh thu tuỳ theo từng thời kỳ và lĩnh vực nghiên cứu như tập đoàn ZTE hàng năm chi cho R&D từ 10-17% doanh số, Siemens AG chi 7%, France Telecom 1,6% trên doanh số; tập đoàn Huawei có 48% trong tổng số hơn 44.000 nhân viên làm việc trong lĩnh vực R&D... Đây là những chỉ số quan trọng bởi doanh số hiện tại do R&D trong quá khứ thúc đẩy và đầu tư vào R&D hiện tại là một dự báo về tăng trưởng doanh số trong tương lai.
Theo số liệu điều tra từ 7.232 DN sản xuất ở nước ta do Tổng cục Thống kê thực hiện năm 2002, số doanh nghiệp đầu tư vốn cho nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ chỉ có 444 DN (tỷ lệ 6,1%), trong đó có 40,9% DN nhà nước; 5,9% DN ngoài quốc doanh và 53,1% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trong tổng số vốn đầu tư cho hoạt động khoa học công nghệ của các DN chỉ có 8% cho nghiên cứu khoa học, còn lại đều là dành cho đổi mới trang bị kỹ thuật chủ yếu là nhập khẩu máy móc thiết bị từ nước ngoài, còn việc đầu tư để tự đổi mới công nghệ và sản phẩm ít được coi trọng. Nếu so với doanh thu thì tỷ lệ đầu tư cho nghiên cứu khoa học trên doanh thu của 444 DN nói trên chỉ đạt 0,26%.
Đối với các DN viễn thông Việt Nam, qua khảo sát điều lệ DN, mô hình tổ chức và quy chế tài chính thấy: chỉ duy nhất có Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam có các tổ chức chuyên về nghiên cứu là Viện Kinh tế Bưu Điện, Viện Khoa học Kỹ thuật Bưu Điện, Trung tâm CNTT trực thuộc Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông với mục tiêu gắn kết giữa các khâu đào tạo - nghiên cứu - sản xuất trong Tập đoàn, tuy nhiên mức chi cho các đơn vị cũng rất khiêm tốn (không cao hơn các DN nghiệp do Tổng cục Thống kê khảo sát trên đây), số liệu theo bảng sau:
Bảng 1. Chi phí của một số đơn vị nghiên cứu thuộc Tập đoàn BCVT Việt Nam
Tên đơn vị
Năm 2002
%/tổng doanhsố
Năm 2003
%/tổng doanhsố
năm 2004
%/tổng doanhsố
Viện KHKT Bưu điện
18,6
0,08%
24,6
0,09%
23,4
0,08%
Viện Kinh tế Bưu điện
7,3
0,03%
9,2
0,04%
11,8
0.04%
Trung tâm CNTT
33,7
0,15%
46,4
0,18%
25,8
0,08%
Tổng doanh thu
21.394
0,26%
24.997
0,31%
30.500
0,20%
(Nguồn: báo cáo tài chính các đơn vị năm 2002, 2003, 2004)
Số lượng các đề tài R&D các sản phẩm công nghiệp trong 8 năm (từ năm 1996 đến năm 2004) của Tập đoàn VNPT là 67 đề tài bao gồm các đề tài nghiên cứu chế thử, còn mang tính nhỏ lẻ, chủ yếu là các thiết bị phục vụ cho công tác đo kiểm, bảo dưỡng thiết bị viễn thông, một số thiết bị đầu cuối, các thiết bị đấu nối, cáp đồng, cáp quang và một phần thiết bị tổng đài (chủ yếu là card thuê bao), một số phần mềm điều khiển tổng đài điện tử số, phần mềm ứng dụng cho điều hành SXKD… Tổng kinh phí nghiên cứu cho cả giai đoạn này chỉ đạt gần 8,5 tỷ đồng cho phần cứng và 19 tỷ đồng cho nghiên cứu phần mềm. (Nguồn: Báo cáo Hội thảo 20 năm đổi mới, tháng 8/2005).
Những thông tin trên đây cho thấy có sự hạn chế nhất định trong việc đầu tư cho R&D ở các DN viễn thông Việt Nam nói chung, điều này phản ánh một thực tế là các quy chế tài chính được khảo sát của các DN viễn thông đều chưa thể hiện được sự quan tâm và những nét đặc thù của hoạt động R&D, ví dụ như nguồn chi cho R&D chỉ là những khoản kinh phí còn hạn hẹp, được gọi là các khoản chi cho đề tài khoa học, chi sáng kiến, cải tiến kỹ thuật… Tuy có tên trong khoản mục chi phí nhưng những hướng dẫn cụ thể cho khoản chi phí này còn chung chung hoặc nếu hướng dẫn (đối với các đơn vị nghiên cứu) thì được xác định là các khoản chi cho các đơn vị sự nghiệp với các định mức và đơn giá còn hết sức chặt chẽ, nhiều khi chưa hợp lý. Những hạn chế trên có nhiều lý do, ngoài nguyên nhân do các DN viễn thông Việt Nam có tiềm lực tài chính còn nhỏ so với các tập đoàn viễn thông trên thế giới, sự quan tâm chưa đúng mức đến vấn đề này của các DN... thì có những nguyên nhân từ phía cơ chế chính sách của Nhà nước, chẳng hạn như các quy định hiện hành về đầu tư chưa cụ thể cho công tác R&D. Chi phí R&D để có được một công nghệ hoặc sản phẩm mới sẽ rất lớn và thực hiện trong một thời gian dài, tính rủi ro cao, khó định lượng được hiệu quả vì thế các doanh nghiệp không dám mạo hiểm quyết định đầu tư những dự án vốn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.
4. Một số ý kiến với việc đổi mới cơ chế tài chính cho công tác R&D
Trên cơ sở nghiên cứu chính sách đầu tư cho hoạt động R&D của các tập đoàn trên thế giới, chính sách đầu tư cho khoa học công nghệ ở Việt Nam, các vấnđề về tài chính và hoạt động R&D của ngành bưu chính viễn thông, chúng tôi xin có một số ý kiến đối với việc đổi mới cơchế tài chính cho công tác R&D của Ngành:
- Về cơchế chi phí cho hoạt động R&D, cần ban hành những hướng dẫn cụ thể hơn, chẳng hạn có thể ban hành những quy định tính hiệu quả sinh lời của dự án khoa học, sáng kiến cải tiến kỹ thuật... làm cơ sở để trả công cho những người làm công tác nghiên cứu tương xứng với đóng góp làm lợi của họ, chi trả đúng đối tượng để tăng động lực nghiên cứu.
- Bản thân hoạt động R&D là một phần của SXKD, tham gia vào quá trình tạo ra lợi nhuận và sự phát triển của Tập đoàn. Vì vậy cần nghiên cứu đề xuất việc thành lập Quỹ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của các tập đoàn DN viễn thông và CNTT, được hình thành từ lợi nhuận sau thuế của DN.
Trường hợp những dự án lớn, có tầm cỡ quốc gia, DN có thể đề nghị nhà nước hỗ trợ từ ngân sách Trung ương cho hoạt động khoa học công nghệ. Những dự án đầu tư này xin trình duyệt đặc biệt không theo quy định hiện hành.
- Tăng dần tỷ lệ cho kế hoạch chi phí cũng như kế hoạch đầu tư từ ngân sách của Tập đoàn cho hoạt động R&D, đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là cho các chương trình mục tiêu, các chương trình khoa học công nghệ lớn, các tài năng đang theo học trong các trường đào tạo, có cam kết sẽ làm việc lâu dài trong DN nhằm thu hút lao động có hàm lượng chất xám cao.
- Chi phí nghiên cứu một công trình khoa học thường phát sinh trong thời gian dài, với số lượng kinh phí lớn, trên thực tế còn phải kết hợp với các DN mới có thể ứng dụng đưa vào kinh doanh phục vụ, vì thế rất cần có cơchế tạo sự liên kết giữa các đơn vị làm công tác nghiên cứu và các đơn vị sản xuất. Ngoài các nguồn tài chính do tập đoàn cấp còn có thể xem xét áp dụng chế độ đơn đặt hàng sản xuất của các doanh nghiệp viễn thông đối với các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, nhất là hiện nay Chính phủ đã có nghị định quy định về doanh nghiệp khoa học công nghệ cần sớm nghiên cứu đưa vào quy chế tài chính của tập đoàn DN viễn thông.
- Đặc thù viễn thông và CNTT có các sản phẩm trí tuệ có hàm lượng chất xám cao vì vậy, đề nghị Nhà nước và các Bộ, Ngành sớm nghiên cứu và ban hành định mức cho các sản phẩm trí tuệ này ví dụ : phần mềm (software), tư vấn, thiết kế đề án CNTT, các sản phẩm công nghiệp nội dung...
Trên đây là một số suy nghĩ trên cơ sở nghiên cứu các hoạt động của các tập đoàn trên thế giới và những cơchế, chính sách khoa học công nghệ trong nước cũng như kinh nghiệm bản thân trong thời gian công tác tại Bộ Bưu chính, Viễn thông và Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Rất mong được bạn đọc góp thêm ý kiến với sự đóng góp của cơchế quản lý tài chính đối với phát triển khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
ThS. Trần Duy Hải
(Tạp chí BCVT-CNTT)
Tài liệu tham khảo:
[1]. Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2004 – Bộ Khoa học và Công nghệ
[2]. Báo cáo tại Hội thảo 20 năm đổi mới – Bộ Bưu chính, Viễn thông, tháng 8-2005
[3]. Báo cáo tài chính VNPT 2002, 2003, 2004.
[4]. Điều lệ tổ chức hoạt động VTC, FPT, Hanoi Telecom, Saigon Postel; Quy chế tài chính Viettel, VNPT.
[5]. RICHARD A.BREALEY and STEWART C. MYERS, Principle of Corporate Finance
Những ý kiến của đọc giả:
Vương Bình Đánh giá: Không Post time: 14:56:33, 04-Oct-2009 GMT+7
Xin có vài câu hỏi mở với tác giả và Ban quản trị:
1. Nếu dịch "Cơ chế quản lý tài chính" ra tiếng Anh thì công tác này tương đương với nhiệm vụ nào của CEO và CFO.
2. Hoạt động R&D là hoạt động rủi ro, kiến nghị của tác giả về cơ chế quản lý tài chính cần rõ hơn (Cơ chế rất cứng, các nhà hành chính học ở Việt Nam coi đó là thể chế để thể hiện vai trò lãnh đạo của..), gợi ý này có thực tế không.,
3. Xem xét trường hợp của Gooogle tại DH Stand ford: Việc áp dụng mô hình APPPs đã biến hoạt động R&D thành Gooogle ngày nay, thì nội dung bài viết của tác giả cong hợp lý không?